Trên tờ The Guardian hay có list sách hay do một nhà văn hay ai đó tự lập ra. Có rất nhiều, cũng tương tự như “Le Questionnaire de Marcel Proust” (vụ questionnaire này cũng rất vòng vèo, đại khái là khi còn nhỏ Proust đọc thấy cái test tiếng Anh và nhiều lần trả lời, rồi thay đổi một chút các câu hỏi; bản thảo này gần đây được bán đấu giá lên tới trên 100.000 euro: xem thêm ở đây). Lần này danh sách của Malcolm Pryce chọn 10 “expatriate tale” hay nhất rất thú vị. Tôi cũng chẳng biết Pryce là ai, danh sách của Pryce tôi cũng chỉ biết vài quyển: The Quiet American của Greene (ai mà không biết), The Alexandria Quartet của Lawrence Durrell (với tôi Durrell là tương ứng bên tiếng Anh của Albert Cohen bên tiếng Pháp), The Gentleman in the Parlour của Somerset Maugham, Speak, Memory của Nabokov (mà trên blog cũ tôi cũng từng nói đến), Under the Volcano của Malcolm Lowry (cũng là một duyên nợ: do một lần quá chán nản chẳng có gì làm trong một thư viện rộng mênh mông nên tôi đã lỡ tay rút trúng quyển này và đọc say sưa), và A Moveable Feast của Hemingway. (Nhìn chung hiểu biết của tôi về văn học Anh-Mỹ là rất hạn chế).
Cách Pryce viết về cuốn hồi ký của Hemingway cứ là lạ, đọc mấy lần mới hiểu đại khái:
“Hemingway in Paris in the 20s. Starving, living in a garret with his wife, but somehow able to write in the morning and go to the races every afternoon. It all seems so achingly romantic that it comes as a shock in later years to find out it was mostly bollocks – he wasn’t really starving but had loads of money. Ah well. The bits about sharing the place with Ezra Pound, F. Scott Fitzgerald, Ford Maddox Ford, John Dos Passos, James Joyce and Gertrude Stein are true. As is the sage advice he gave, that when writing one should always leave a bit over for the next day; stop before one has finished what one was…”
A Moveable Feast (nhan đề siêu khó dịch, bên Pháp chơi ngay trò lẩn tránh, chuồn lẹ, dokhnian way 🙂 bằng cách phiên đi thành Paris est une fête, Paris là một bữa tiệc) rất mỏng, nhưng kể rất nhiều chuyện, đặc biệt hấp dẫn là chuyện về Gertrude Stein hồi đó sống ở phố Fleurus (Stein cũng xuất hiện trong phim Modigliani, như một con ngoáo ộp).
Hồi này Hemingway sống ở khu quận năm, quanh quẩn phố Mouffetard (La Mouffe), quảng trường Constrecarpe, gần phố Cardinal Lemoine và hay đi ngược sang bên quận sáu đến “A Good Café on the Place de St-Michel” – Một quán rất được trên quảng trường St-Michel 🙂 và bắt đầu tự xây dựng kỹ thuật viết văn như sau này chúng ta (một số) sẽ thấy.
Thôi bận rồi để lúc khác viết tiếp hehe (ở Việt Nam truyện “The Short Happy Life of Francis Macomber” trong tập The Snows of Kilimanjaro được dịch thành “Hạnh phúc ngắn ngủi của Mắc Com-bơ”).
+ Tức quá, có bài báo “Hemingway’s Gender Trouble” của Gerald Kennedy này muốn vơ quá mà nó đòi trả tiền; bác nào có sẵn hay đang có pass lấy hộ được không ạ? Tks tks 🙂
http://nhilinhblog.blogspot.com/2009/05/hanh-phuc-ngan-ngui-cua-francis.html