Mất bóng

Đánh mất đi cái bóng của mình là một việc rất nghiêm trọng. Lịch sử văn chương đã chứng kiến rất nhiều bận các nhà văn nhà thơ miêu tả cái bóng, thậm chí còn đi đến mức bàn luận, chơi đùa, uống rượu với bóng (Lý Bạch); Nhất Linh trong bài thơ mà ông gọi là đầu tay đã viết: “Con thuyền đè sóng tênh tênh vượt/Chiếc bóng sau người lướt thướt theo”. Cũng thỉnh thoảng có người chột dạ: nhỡ ra cái bóng bị mất đi thì sao? Haruki Murakami trong “Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới” (Lê Quang dịch, Nhã Nam và NXB Hội Nhà văn) là một trong số ấy.

Còn trước Murakami, nếu muốn kể tên tác phẩm kinh điển về chủ đề này thì nhất thiết không thể bỏ qua cái tên Peter Schlemihl. Nhan đề đầy đủ của cuốn sách là “Câu chuyện huyền hoặc của Peter Schlemihl hay Người đã bán đi cái bóng của mình” của nhà văn người Đức gốc Pháp Adelbert von Chamisso. Viết năm 1814, cuốn truyện mỏng manh được coi như là một trong những thành tựu đặc sắc nhất của sơ kỳ chủ nghĩa lãng mạn châu Âu. Ở Việt Nam, tác phẩm này tồn tại dưới dạng một bản dịch ngày nay ít người biết đến, “Người mất bóng” (Cô Lữ dịch, Nguyệt Quế xuất bản, 1973).

Peter Schlemihl, câu chuyện về nhân vật này sau được bạn đọc nhỏ tuổi rất ưa chuộng, là một chàng trai trẻ nghèo khó, vì tham một thứ đồ rất quý mang tên cái túi Fortunatus (bản Việt ngữ dịch thành “chiếc túi của thần tài”) nên đã bằng lòng đổi cái bóng của mình cho một gã đàn ông bí ẩn. Kể từ đó, cơn ác mộng bắt đầu: tuy rất giàu nhưng Peter Schlemihl bị cả thế giới khinh rẻ. Khi gặp lại gã đàn ông kia, bị gạ đổi linh hồn để lấy lại bóng, Peter Schlemihl đã từ chối rồi vứt túi tiền đi, sau đó chu du khắp nơi và tập trung nghiên cứu khoa học, tìm thấy sự thanh thản nội tâm.

Nhân vật chính của Haruki Murakami ở “Xứ sở diệu kỳ tàn bạo…” cũng rơi vào hoàn cảnh oái oăm ấy, và cũng không sung sướng gì hơn Peter Schlemihl. Đó là chuyện xảy tới với vị “toán sư” ở một nơi chốn mang tên “tận cùng thế giới” do chính tiềm thức của anh ta tạo ra.

Nhưng Murakami đã rất khác với Chamisso: câu chuyện của nhà văn Nhật Bản không hướng tới một mục đích đạo đức, mà lợi dụng hình thức khoa học viễn tưởng để trình bày một cái nhìn có thể gọi tên là kỳ quặc: tiến về phía tận thế nhưng không chút bi quan, đối diện với cái tàn khốc của thiên nhiên và trí tuệ nhưng không mất đi sự tươi tắn trong giọng văn, và nhất là cận kề với cái chết nhưng lại gần như là tận hưởng nó.

Và thêm một lần nữa, ta có thể thấy Murakami thành thạo kỹ thuật phân đôi tiểu thuyết đến thế nào, bởi đây lại là một cuốn sách nữa có hai tuyến truyện riêng biệt (giống như ở “Biên niên ký chim vặn dây cót” hay “Kafka bên bờ biển”). Ở Murakami, người sử dụng ẩn dụ nhiều và với một cách thức thản nhiên tới mức đôi khi ta tự hỏi không biết với ông khái niệm “ẩn dụ” có cùng trị số với định nghĩa tu từ học và với các nhà văn khác hay không, một cấu trúc tiểu thuyết như vậy cũng có thể coi là một gợi ý về ẩn dụ: trong bất kỳ cuốn sách nào dùng dạng cấu trúc này, Murakami cũng triệt để khai thác chủ đề một con người cá nhân đơn độc đối diện với thế giới, tìm cách thoát ra khỏi thế giới để quan sát từ bên ngoài. Cái lạ của tiểu thuyết Murakami là một hành trình như vậy lại không bao giờ có màu sắc của chán chường, bi thảm.

Cuốn tiểu thuyết viết năm 1985 này của Murakami vẫn còn rất nhiều sự duyên dáng, điệu đà của một nhà văn mới cầm bút chưa lâu, nhưng đã có rất rõ tài năng của ông trong việc miêu tả sự kỳ quặc, điên rồ một cách tỉ mỉ và rốt cuộc, đầy bất ngờ, biến những điều kỳ quặc, điên rồ thành một cái gì đó thật nhẹ nhõm, cũng như trong việc để cho nhân vật phát biểu ra những điều lẽ ra phải rất phức tạp bằng một sự phảng phất như những giấc mơ đòi hỏi được siêu thoát nơi thành phố chốn tận cùng thế giới: “Muốn nói gì thì nói, bóng là cái ở gần người ta nhất” (tr. 481, lời viên đại tá nói với nhân vật chính).

Nhị Linh

——————————–

Và bây giờ là quảng cáo:)

Quyển sách của anh Nguyễn Chí Hoan, Bút ký một người đọc sách, cuối cùng đã in xong. Được nhờ “viết vài lời”, tôi phải đánh vật suốt mấy tuần. Bài tập viết ngắn này, dù luyện tay bao lâu thì mỗi lần động vào vẫn thấy như mới.

“Đã trở thành một thói quen, khi nói tới phê bình của Nguyễn Chí Hoan, người ta nói rằng phê bình ấy rối rắm và khó hiểu. Điều này theo tôi dường như không công bằng và, dường như, cũng khó hiểu, bởi với tôi phê bình văn học của Nguyễn Chí Hoan là hiện thân của sự giản dị. Giản dị vì tiếp cận tác phẩm với tư cách là chính nó (có những bài viết gần như không nhắc tới cả tên tác giả), và cũng vì cách lấy giọng đồng điệu với tác phẩm (hãy để ý, tùy tác phẩm nào mà có phê bình ấy, trong hệ thống phê bình của Nguyễn Chí Hoan). Giản dị, và không chỉ vậy, phê bình ấy còn khiêm nhường, không bao giờ sỗ sàng cố xen lời, tán rộng, ép uổng tác phẩm đến những chân trời kỳ quặc nào đó (nhưng lại được nhiều nhà phê bình khác say đắm).

Những lời nói thẳng có thể khó hiểu không? Có thể, chắc vậy.”

Và đây là bài mới nhất của anh Nguyễn Chí Hoan, cũng về Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới.

https://nhilinhblog.blogspot.com/2010/01/mat-bong.html