Trong thơ của miền Nam trước 1975, người ta hay xếp Bùi Giáng cạnh Phạm Công Thiện, nhưng theo tôi người cần đặt cạnh Bùi Giáng là Thanh Tâm Tuyền, để thấy rằng thơ miền Nam hồi đó có những antipode đến mức thế nào. Ở đây không chỉ là chuyện tự do tư tưởng cho phép nảy sinh và nuôi dưỡng sự đa dạng, mà còn là chuyện các khả thể của thơ đã được một số người đẩy đi nhiều hướng, xa hết mức. Giờ đây nhìn lại, đó là điều căn bản khác giữa thơ miền Nam và thơ miền Bắc. Thơ miền Bắc thời ấy cũng rất đông đảo và không ít người tài năng, nhưng hoàn toàn khác, có thể là vì không có chuyện đi về những cực điểm khác nhau.
Và thêm nữa, các đối cực ấy lại hiểu nhau sâu sắc: bài viết quan trọng nhất về Bùi Giáng cho tới giờ hẳn vẫn là bài của Thanh Tâm Tuyền, và ngược lại, Bùi Giáng cũng đặc biệt coi trọng tài năng của Thanh Tâm Tuyền.
———–
Nản nhất là gặp phải những nhà thơ khi nhắc tới là nhất nhất phải tuân theo một sơ đồ định sẵn, như Huy Cận thì sầu, Xuân Diệu thì ríu rít, Vũ Hoàng Chương thì mây khói, Bùi Giáng thì điên. Cũng thật nản khi bàn tới Bùi Giáng nhất định người ta cứ phải quay cuồng trong “Hằng thể”, “Cố quận”, “Quy hồi”, “Tồn lưu”, “Yếu tính”, “Phiêu bồng”, “Ẩn ngữ”, vân vân và vân vân, trong khi thơ Bùi Giáng hoàn toàn có thể là một cõi đơn giản nhất, cõi của “Năm xưa châu chấu mang tên chuồn chuồn”, và để đi vào đó thì những từ ngữ giản dị nhất cũng hữu hiệu ngang bằng ngôn từ uyên áo dị kỳ nhất. Hoặc chẳng ngôn từ nào là cần thiết cả.
Người ta có nói gì về sự điên của Bùi Giáng, rằng đó là điên đẹp, điên lớn (nghe cũng thích), thì với tôi ông vẫn không điên. Không điên nhưng cũng không tỉnh. Mà là một sự ở giữa, một sự cân bằng nào đó không thể gọi tên, nhưng cân bằng đích thực. Ta rất khó nói người điên có cân bằng hay không, và rất có khả năng người điên dễ đạt tới mức cân bằng hơn người tỉnh, còn Bùi Giáng bình thản trong sự xa lạ và mênh mông: “Vào trong cõi bờ nào bát ngát, trung niên thy sỹ cũng tự biến mình làm người khách lạ mênh mông”. Người tỉnh chắc chắn không rộng lượng, người điên chưa chắc đã rộng lượng, nhưng người cân bằng thì rộng lượng, nên Bùi Giáng bảo “độc giả hãy hồn nhiên bỏ chân xuống ngày tháng, xuống ngã ba, hình thành bước đi cho những con đường ngã bốn, ngã năm ngã sáu ngã bảy. Thế là tốt lắm”. Nhìn ra ở ý nghĩ này một nguồn gốc Heidegger (Những con đường không dẫn về đâu) thì cũng được, cũng hay, nhưng không nhất thiết. Và cõi Bùi Giáng nhất quyết là khác cõi Thanh Tâm Tuyền, người tuyên bố: “Ở đây tôi là hoàng đế đầy đủ quyền uy”.
Bởi Bùi Giáng không giống người khác ở chỗ: những người khác họ đến một cõi, họ xin lấy một chỗ cho mình, hoặc giả họ cướp lấy, rồi mở rộng, bành trướng, còn Bùi Giáng thì ngay từ đầu đã tạo ra một cõi riêng, cái cõi ấy hay được miêu tả là mênh mông, phiêu bồng, rộng như sa mạc, rộn ràng phong phú, nhưng hoàn toàn cũng có thể nghĩ là một cõi đơn sơ, đạm bạc, và nhỏ bé. Dù có thế nào, thì cõi đó cũng là một cõi thoải mái bậc nhất mà độc giả của thơ có thể tìm ra, cái cõi mà Bùi Giáng xây dựng nên bằng Thơ Việt Nam, có điểm thêm chút “tư tưởng hiện đại” nhưng chủ yếu vẫn là Thơ Việt Nam, cụm từ mà ông dùng nhiều lần, nhưng được phát ngôn từ ông, nó không còn mang cái tính chất chật chội khó chịu của các quan điểm quốc gia chủ nghĩa.
Thơ Việt Nam của Bùi Giáng có Nguyễn Du oai vệ, có những thần tượng mà không bao giờ ông hạn chế lời khen tuyệt mù: Huy Cận, Ngân Giang, Hồ Dzếnh (mà có lúc ông nhất định gọi là Hồ Xuân Dzếnh), và nhất là thơ lục bát. Bùi Giáng là người có tuyên dương thơ lục bát theo cách thức hiển hách nhất: “lục bát Việt Nam là cõi thi ca hoằng viễn nhất”, và trên cuộc tiếp sức vĩnh viễn của lục bát Việt Nam (của những Nguyễn Du, Nguyễn Bính, Hồ Dzếnh, và, biết đâu, cả Nguyễn Thế Hoàng Linh) Bùi Giáng là một vận động viên có nước chạy trông đủng đỉnh nhưng thật ra tốc độ và phong thái đều tuyệt vời.
Nhưng cõi thơ của Bùi Giáng, nằm bên trong (hay nói đúng hơn là bên lề, một bên lề thật thoải mái dễ chịu) Thơ Việt Nam, cũng có những phép tắc nhất định, đảm bảo cho nó không rơi hẳn vào địa hạt sự điên mà cứ ở lại mấp mé bên rìa, không phải theo kiểu “Bây giờ tôi dại tôi điên/Chắp tay tôi lạy cả miền không gian” (Hàn Mặc Tử). Ở trong đó, chữ nào cũng được phép ở bên cạnh một chữ khác, nhưng nhìn cho kỹ thì cũng không hoàn toàn như vậy, vẫn có những ngôi cao ghế ngự cho một số từ, một số cách phát ngôn. Ở trong bình luận thơ, mà Bùi Giáng gọi là Đi vào cõi thơ, hay Thi ca tư tưởng, rồi Ngày tháng ngao du, đầy ắp những khen ngợi, những vinh danh nhiều khi cuống cuồng: “Thanh Tâm Tuyền như một vị tướng lãnh gan lì, sử dụng một loại võ công chỉ riêng một mình ông đạt tới quai nhai cảnh giới” hay “thơ Huy Cận quả có như là cõi miền huyền bí nhất của tinh thể Đông Phương”, rồi “Phải quên mấy bài lục bát của ông Hồ Dzếnh thì mới còn can đảm làm thơ”. Thế nhưng, cũng không chỉ toàn là lời khen: sự cân bằng của cõi ấy được đảm bảo bằng việc Bùi Giáng chê Chế Lan Viên điên vờ, nói về Tản Đà: “Thơ của tiên sinh làm, chẳng có chi xuất sắc”, rồi “Thơ Nguyễn Công Trứ là một con zéro. Thơ Cao Bá Quát là một con zéro rưỡi”.
Những màn chuyển hóa điên-tỉnh của Bùi Giáng gợi ra ở Thanh Tâm Tuyền cảm giác về một sự “rỡn đầy thảm họa” (trong bài viết quan trọng “Bùi Giáng, một hồn thơ bị vây khổn” hồi 1973), một nghịch lý tất yếu để đạt tới chỗ cân bằng: bên cạnh những câu như “Sáng nay bao tử mơ mòng/Cà phê bên nọ cháo lòng bên kia” thì cũng lại có những câu kiểu “Anh nằm xuống để nhìn lên cho thỏa/Anh thấy lòng mở rộng đón trời xanh”, có lúc trong Đi vào cõi thơ hay Thi ca tư tưởng Bùi Giáng nói rỡn chơi về Vũ Hoàng Chương, nhưng ông cũng lại viết về tập Rừng Phong của Vũ thi sĩ theo đúng thể thức phê bình gia chuyên nghiệp: “Hình như tác giả Rừng Phong đã can đảm thành thật nói được cái gì mà từ lâu chúng ta không dám. Tác giả đã thành thật nói, cũng như đã thành thật sống”, rồi “Cái say của Vũ Hoàng Chương là cái say của người muốn sống tỉnh, lòng còn hoài vọng lý tưởng giữa thực tế buồn thương” (tạp chí Văn số chuyên đề Vũ Hoàng Chương, 1970).
Những nghịch lý đơn sơ đó, Bùi Giáng cũng từng viết ra rành rọt trong “Viết lại Nam hoa kinh” với số 7: “Suốt năm khắc khoải loay hoay mà tự cho mình thanh thoát phiêu bồng, ấy là đạo vậy” rồi số 13: “Chán chường thi ca, mà cứ làm thơ hoài, ấy là đạo vậy”.
Rồi sau rốt là cái nghịch lý theo đó Bùi Giáng khi thì được coi là nhà thơ trác tuyệt lúc lại bị xem là người lảm nhảm tự lặp lại mình đến phát ngán. Sự tự lặp lại này là hiển nhiên, ai cũng thấy, nhưng với tôi, đó là một sự lặp lại đương nhiên của một cõi thơ muốn là cân bằng (và đơn giản): “tà huy” nhắc đi nhắc lại đến kiệt cùng, nó sẽ không còn là “tà huy” bất ngờ, chói lọi, sáng lòe, gây choáng váng âm u của Ôn Như nữa, vì “tà huy” mà Bùi Giáng muốn là một thứ bình thường trong tầm tay với, tưởng như có thể ngồi bên cạnh ta mà trò chuyện chứ không cao xa nỗi gì.
Con người ấy, theo một chuyển biến vật lý hay hóa học kỳ lạ nào đó, sau những trải nghiệm ngặt nghèo kinh hoàng của cõi đời, đã tới được một cõi cân bằng nhỏ bé nằm đâu đó ở chốn thơ ca, để mà khẳng định rằng: Thơ vô tận vui.
———–
“tà huy” nổi tiếng nhất của Bùi Giáng: “Em về giũ áo mù sa/Trút quần phong nhụy cho tà huy bay”, còn “tà huy” của Ôn Như Nguyễn Gia Thiều: “Cầu thệ thủy ngồi phơi cổ độ/Rừng thu phong đứng rũ tà huy”
về Bùi Giáng, xem thêm ở kia