Tôi vẫn không thôi ngồi đó, etc. etc.
Ta quay trở lại từ đầu La Comédie humaine.
Trong cách sắp xếp La Comédie humaine như ta thấy hiện nay, mở đầu bộ sách là phần “Études de moeurs” (Các ê-tuýt phong hóa), mở đầu phần “Études de moeurs” này là “Scènes de la vie privée” (tức là các “xen” về cuộc đời riêng); tổng cộng có khoảng gần ba mươi “cảnh” thuộc “Scènes de la vie privée”.
Mở đầu, xếp thứ nhất của “Scènes de la vie privée”, cũng là mở đầu và xếp thứ nhất của “Études de moeurs”, đương nhiên cũng là mở đầu và xếp thứ nhất của toàn bộ La Comédie humaine, là La Maison du Chat-qui-pelote, bản dịch tiếng Việt tên là Cửa hiệu Mèo-chơi-bóng.
Tôi đã đọc rất nhiều lần tác phẩm thứ nhất này, lần nào cũng tìm ra rất nhiều điều mới mẻ từ tác phẩm thật ra rất ngắn ấy. Tôi cũng nghĩ, Balzac hoàn toàn có lý khi quyết định đặt nó ở vị trí này, cho dù rất có thể nó không vang dội, nó không làm người ta choáng váng và sửng sốt như nhiều tiểu thuyết khác của bộ sách. La Maison du Chat-qui-pelote tương đối đơn giản, nhưng nó để lại một dư vị rất khó diễn tả. Nhiều lần tôi đã nhắc đến nó trong các bài viết. Lần đọc lại nó gần đây nhất, đoạn Augustine đến gặp người phụ nữ quý tộc tại “boudoir” của người phụ nữ ấy, câu chuyện họ nói với nhau, đã làm tôi thấy thực sự một vẻ đẹp ảm đạm mà chỉ những ai (rất ít) hiểu phụ nữ một cách sâu sắc mới biết cách tạo ra.
Số 2 là Le Bal de Sceaux (tên bản dịch tiếng Việt: Vũ hội ở Sceaux) cũng rất ngắn. Thật ra, đây mới chính là tác phẩm có niên đại sớm nhất trong số toàn bộ những gì làm nên La Comédie humaine (xuất bản năm 1830, được viết vào năm 1829), chứ không phải La Maison du Chat-qui-pelote. Câu chuyện về Émilie de Fontaine sau đó trở thành bà de Kergarouët (thủy sư đô đốc về già Kergarouët sẽ còn xuất hiện trong nhiều tác phẩm thuộc La Comédie humaine, một trong những ông già đáng nhớ nhất từng xuất hiện dưới ngòi bút Balzac) giải thích cho rất nhiều điều ở các cuốn sách khác.
Sau số 1 và số 2, ta chưa hề có bản dịch tiếng Việt nào của gần 20 tác phẩm nối tiếp.
Tiếp tục bản liệt kê: số 3 là Mémoires de deux jeunes mariées, một cuốn tiểu thuyết bằng thư (roman épistolaire), đi sâu vào một trong những chủ đề ưa thích nhất của Balzac: hôn nhân (có thể coi La Comédie humaine kết thúc bằng một tác phẩm viết riêng về hôn nhân, thuộc “Études analytiques” tức là các ê-tuýt phân tích, xếp sau các ê-tuýt triết học). Hai cô gái trẻ vừa rời tu viện bước chân vào cuộc đời, mỗi người theo một cách, viết thư cho nhau. Đặc biệt, tác phẩm này có nhân vật chính là Renée de Maucombe, một trong những phụ nữ đẹp nhất của La Comédie humaine.
Số 4 là La Bourse, một câu chuyện ngắn nữa, liên quan tới một chàng họa sĩ. La Bourse (Cái túi đựng tiền) rất gần với tác phẩm số 1, La Maison du Chat-qui-pelote, ở nhiều khía cạnh.
Số 5 là Modeste Mignon: đây là một tác phẩm tương đối dài, chủ đề là lòng trung thành. Ta cần nhớ là ở Balzac có rất nhiều “phẩm chất cornélien”, tức là có rất nhiều những gì được ca ngợi trong các vở kịch của Corneille, tức là những phẩm chất của quý tộc thời Trung cổ. Người ta cứ nghĩ, ở Việt Nam, rằng Balzac là nhà văn của giai cấp cần lao, chiến đấu vì lý tưởng tiến bộ: như vậy là ngược hoàn toàn, vì cả đời Balzac chiến đấu chống lại chính xác hai thứ mà Balzac coi là đặc biệt ngu xuẩn: Tiến Bộ và Bình Đẳng. Modeste Mignon là tên nữ nhân vật chính; bối cảnh câu chuyện xảy ra ở thành phố cảng Le Havre.
Số 6 là Un début dans la vie, tức là Một đoạn đầu đời. Trong câu chuyện về Oscar Husson này, có rất nhiều mảnh cuộc đời thực của Balzac. Kỹ thuật của tác phẩm cũng khiến người ta choáng váng về tính chất, nếu có thể nói như vậy, hiện đại của Balzac. Nhân vật họa sĩ của La Bourse cũng xuất hiện thấp thoáng ở đây. Đây là một câu chuyện về sự lừa dối (nhan đề ban đầu của nó có chữ “mystification”).
Số 7 là một kiệt tác lớn: Albert Savarus. Ở một phương diện lớn, đây là một kiệt tác vì ở đây ta thấy rất rõ một điều: sự tàn nhẫn. Thật ra, văn chương luôn luôn là câu chuyện của sự nghiệt ngã, và của sự tàn nhẫn. Nhà văn nào đẩy được sự tàn nhẫn lên mức độ thật cao thì nhiều khả năng đó là nhà văn lớn, thậm chí rất lớn; thêm nữa, sự tàn nhẫn của văn chương là một trong vài thứ không thể giả vờ được. Sự tàn nhẫn của Albert Savarus ở ngang mức độ với văn chương của ba nhân vật về sau đại diện cho sự tàn nhẫn tối cao, đối với tôi: Proust, Kafka và Carver.

———–
[1] Cf. chú thích số 23 ở Ferragus.
[2] Ai biết rõ, thậm chí không cần rõ lắm, về Victor Hugo, đều biết Besançon là thành phố quê hương của Hugo. Mối quan hệ giữa Balzac và Hugo (Balzac hơn Hugo ba tuổi) không dễ nhìn nhận: Balzac đứng cùng hàng ngũ với Hugo trong cuộc chiến đấu mà vở kịch Hernani của Hugo gây ra, nhưng có vẻ như Balzac không hề thấy vở kịch ấy có giá trị; vả lại, thoạt đầu Balzac cũng viết kịch (thậm chí có làm thơ), mà âm hưởng có thể bắt gặp trong đoạn mở đầu Ferragus. Nhưng Hugo sẽ là người đọc điếu văn trong đám tang Balzac, một văn bản gây xúc động to lớn cho người đương thời. Trong Albert Savarus, Balzac cũng sẽ nhanh chóng nhắc tới Victor Hugo.
[3] Các câu chuyện về Jean de Watteville, tức là “ông trẻ” của nam tước de Watteville trong Albert Savarus, đã được Saint-Simon kể lại. Đây là một nhân vật sinh ra ở Besançon vào khoảng năm 1613, có một cuộc đời rất sôi nổi, nhiều vụ đấu kiếm, rất nhiều phiêu lưu, mà có lẽ sẽ có lúc khác ta nhắc đến kỹ càng hơn.
[4] Besançon là thủ phủ lịch sử của Franche Comté, hay Franche Comté de Bourgogne. Vùng này nằm sát biên giới Thụy Sĩ và rất gần Đức cũng như Ý.
[5] Có thể hiểu là phố Dinh Tỉnh Trưởng.
[6] Có thể hiểu là phố Bậc Thềm.
[7] Ở trên, Balzac vừa ví bà nam tước de Watteville (nhũ danh de Rupt) giống như tảng đá, còn đến đây, điều đó được khẳng định thêm theo đường lối hài hước: bản thân cái họ “Rupt” của bà, xét về từ nguyên học, bắt nguồn từ “rupes”, từ Latin nghĩa là “vách đá”.
[8] Balzac chơi chữ: “tourneur” là thợ tiện, đây là từ phái sinh bắt nguồn từ động từ “tourner” tức là “xoay tròn”. Albert Savarus là một cuốn tiểu thuyết đậm đặc châm biếm, mỉa mai, một sự tàn sát khủng khiếp, mà vũ khí là cái nhìn và cách miêu tả mà Balzac sử dụng.
[9] Mấy ông cha abbé; cf. chú thích số 15 trong Mặt bên kia của lịch sử hiện thời.
[10] Abbé de Grancey thuộc vào tập hợp rất đông đảo, vô cùng đáng nhớ các nhân vật tôn giáo (chủ yếu là các abbé, tức “trưởng tu”) mà Balzac dựng ra trong La Comédie humaine, và cha de Grancey có vị trí không nhỏ trong tập hợp ấy. Trong toàn bộ sách, có hai tác phẩm viết riêng về các cha xứ: Le Curé de Tours (Cha xứ Tours – Tours là thành phố quê hương của Balzac: Balzac sinh ngày 20 tháng Năm năm 1799 tại nhà số 25 rue de l’Armée d’Italie, nay là rue Nationale, thành phố Tours; Touraine, vùng mà Tours là thủ phủ, đối với Balzac là “nước Pháp đích thực”, bối cảnh cho rất nhiều tác phẩm thuộc La Comédie humaine) và Le Curé de village (Cha xứ làng), một tác phẩm trọng yếu, nằm ở “Scènes de la vie de campagne”. Nhiều abbé khác rất nổi bật: trưởng tu Birotteau ở Bông huệ trong thung (cũng chính là nhân vật chính của Le Curé de Tours, một ông cha vô cùng thèm khát thư viện của một đồng nghiệp), trưởng tu Chaperon ở một kiệt tác khác, Ursule Mirouët, hay ông trưởng tu già trong La vieille femme (Gái già); Mặt bên kia của lịch sử hiện thời cũng có một nhân vật abbé rất khó quên.
[11] Chức danh chính thức của cha de Grancey là “vicaire général”; ở Besançon có tòa tổng giám mục.
[12] Légitimisme. Cấu trúc chính trị cũng như tòa án tại Pháp hết sức phức tạp, sẽ giải thích dần dần sau. Ở thời điểm này, Louis-Philippe đã lên ngôi.
[13] Có lẽ vì quá ghét nước Anh và người Anh nên Balzac đã nói ở đây một điều không đúng. Esther và Athalie được nhắc tới ở đây là hai vở kịch của Racine. (Balzac nói xấu người Anh ở khắp mọi nơi, nói xấu người Đức, người Ý, người Nga, người Ba Lan và mọi giống người, cho đến cả người Trung Quốc xa lạ và vô tội, không hề ít, và nói xấu người Pháp khủng khiếp nhất, một cách vô đối.)
[14] Nữ công tước ấy là Louise de Kéroualle, người xứ Bretagne nước Pháp, tình nhân của vua Anh Charles II, sống vào cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18. “Váy lồng” (robe à panier) là loại váy rất nổi tiếng của phụ nữ quý tộc châu Âu suốt một thời gian dài, cái váy có khung bên trong, phủ phải bên ngoài, khi mặc nó người phụ nữ như thể đang ở trên một đụn rơm lớn; hình ảnh phụ nữ mặc loại váy này hết sức sinh động, nhất là nếu kết hợp với phần phía trên trễ ngực, nhưng người ta rất dễ bị quyến rũ trước đó (nhất là các chàng trai trẻ) mà quên mất rằng cái lồng váy có thể hết sức hữu dụng; từng có nhiều câu chuyện, khó biết thật hay không, về nam nhân trốn thoát cuộc truy đuổi nào đó bằng cách chui vào bên trong một đụn rơm như thế và nằm yên ở đó (hoặc cũng có thể không yên tĩnh lắm); đến nay người ta vẫn chưa làm sáng tỏ được Günter Grass có lấy cảm hứng từ loại váy này không, khi tạo ra cảnh chui vào váy rất đáng nhớ ở đoạn đầu Die Blechtrommel.
[15] Tức là cung điện hoàng gia ở Paris; lâu đài cháy đã từ lâu, nay chỉ còn cái vườn lớn.
[16] Tên đầy đủ là Les Anglaises pour rire ou la Table et le logement, một vở “vaudeville” của Sewrin và Dumersan. Balzac không chuẩn xác ở thời điểm: vở kịch được diễn lần đầu vào tháng Chạp 1814 chứ không phải vào năm 1815.
[17] Ở trên, Balzac đã nói nước Pháp và nước Anh truyền sang cho nhau từ ngữ và trang phục, sau khi nói đến một số trang phục, Balzac chuyển sang từ ngữ. Chắc cần viết cả một cuốn sách để giải thích thấu đáo đoạn bắt đầu từ “Từ mười năm nay”: lúc này, hãy tạm hài lòng với một sự chuyển dịch dĩ nhiên không mấy tài tình, chỉ cần rút từ đó một ý tưởng cần thiết cho câu chuyện: Balzac đang nói đến hiện tượng ở Pháp, bắt chước bên Anh, xuất hiện các “dandy”, hay “lion”, tức là những người đàn ông ăn mặc vô cùng cầu kỳ, “có phong cách”. De Soulas chính là một “lion” (sẽ được dịch là “sư tử”; đoạn ngay sau sẽ cho thấy “sư tử” giúp ta hiểu nhiều điều).
[18] Câu văn của Balzac là một thành tựu lớn lao ở khía cạnh châm biếm: Balzac dùng từ “sous-lion” (tiểu sư tử) chỉ các “lion tỉnh lẻ” và ngay sau đó dùng từ “sous-pieds” (miếng da hoặc miếng vải luồn xuống dưới bàn chân rồi gá chắc vào giày nhằm cố định chân).
[19] Một nhân vật thân cận với vua Philippe II của Tây Ban Nha.
[20] “Peu littéraire” (ít văn vẻ, ít văn chương) là cách đánh giá nhiều thành phố nước Pháp của Balzac, trong đó đặc biệt đáng nhớ là vài lần Balzac dùng cách nói này đối với thành phố Tours quê hương.
[21] Phố Mới.
[22] Vì de Soulas là “sư tử” (lion) cho nên người hầu của anh ta phải là “hổ” (tigre).
[23] Một louis ăn 20 franc.
[24] Có thể viết cả một khảo luận về các trò chơi “xã hội” xuất hiện trong La Comédie humaine. Về cơ bản, whist và boston là những trò tương đối mới, ngoại nhập, ngoài đó ra Balzac còn hay dựng các cảnh chơi những bộ môn bí hiểm, cũ kỹ và Pháp hơn nhiều, như trictrac, écarté hay mouche.
(còn nữa)
You must be logged in to post a comment.