Ferragus (tiếp)

Blogspot

Ferragus (tiếp theo)

“Jules, anh sao thế? anh đau à? nói đi! nói! nói cho em biết! Nói với em đi, nếu anh yêu em.” Trong chốc lát nàng tới tập phủ lên anh cả trăm câu nói, chúng diễn đạt sự dịu dàng sâu thẳm nhất.

Jules phủ phục dưới chân nàng, hôn lên hai đầu gối, hai bàn tay nàng, và trả lời, tiếp tục tuôn những giọt nước mắt mới:

“Clémence yêu quý của anh, anh thấy bất hạnh lắm! Nghi ngờ người tình của mình thì đâu phải là yêu, mà em là người tình của anh. Anh yêu em vô vàn nhưng lại nghi ngờ em… Những lời mà tên đàn ông kia nói với anh tối nay đã đánh thẳng vào trái tim anh; dẫu anh không muốn, chúng vẫn ở lì lại đó, làm anh đảo lộn. Ở bên dưới đấy có điều bí ẩn nào đó.
———–

[41] Ám chỉ tác phẩm Night-Thoughts của nhà thơ Anh Edward Young (1683-1765).
[42] Nam tước de Nucingen, chủ ngân hàng, không phải là người có dòng dõi quý tộc, mà chỉ giàu, cho nên thuộc giới tư sản cao cấp; ở đây Balzac sử dụng hai ẩn dụ, “or mat” và “or moulu” để chỉ thế giới của Nucingen và thế giới quý tộc của khu faubourg Saint-Germain, được dịch thành “vàng mười” và “vàng mạ”.
[43] Mô típ hay gặp trong các tác phẩm của La Comédie humaine; gương chính là một nhân vật “balzacien” hết sức quan trọng.
[44] Một chuyên gia Balzac cho rằng chỗ này tác giả đang nghĩ đến một tình tiết xuất hiện trong truyện của Hoffmann; Hoffmann là tác giả được Balzac đặc biệt ưa thích, hơn nhiều so với Richardson (cf. chú thích số 33).
[45] Ở đây thì lại có dấu vết của Fenimore Cooper.
[46] Nay vẫn tồn tại, gần Les Halles và không xa phố Soly.
[47] Balzac miêu tả những con người cụ thể, nhưng Balzac cũng – và điều này mới thực sự quan trọng trong tư duy của ông – hướng tới các “típ” (type) người; ở đây cũng cần nhìn thấy mối liên quan với nỗi căm ghét mà Balzac dành cho chủ nghĩa cá nhân, mà trong mắt ông là một trong những thứ bệnh dịch đáng ghê tởm nhất của thời ấy, xứng đáng đứng ngang hàng với mấy thứ mà Balzac khinh bỉ hàng đầu: bình đẳng, tiến bộ và phổ thông đầu phiếu.
[48] Một họa sĩ của thời ấy; Balzac từng viết (báo) bình luận về tranh Charlet.

[49] Nhân vật bà Meynardie này đã xuất hiện trong Bước thăng trầm của kỹ nữ, đoạn liên quan đến Esther Gobseck.[50] Ý nói loài rắn có thể giết người bằng cái nhìn.

[51] Một loại giấy viết thư rất mỏng và có màu xanh nhạt, rất mốt trong quãng thời gian 1830-1833; bản thân Balzac có dùng loại giấy này cho một số bản thảo.

[52] Cụ thể là “pâte pectorale”, một thứ rất mốt vào thời ấy, được Balzac nhắc tới nhiều lần.

[53] Thời đó rất nhiều người xuất thân vùng Limousin làm thợ xây, nhất là ở Paris.

[54] Xe của Auguste de Maulincour là “xe độc mã” (cabriolet), khác với loại xe mà bà Jules sử dụng đã được nhắc đến vài lần (đó là xe “fiacre”).

[55] Một nhân vật hay được Balzac nhắc đến: đây là Ali ở Tebelen, pacha của Janina, hay được gọi là Ali-Pacha (1741-1822), có thói bạo chúa nổi tiếng đến mức mang biệt danh “Sư Tử” (Arslan).

[56] Cũng như Descartes (mà Balzac vài lần nhắc tới trong các tiểu thuyết), Balzac hiểu tầm quan trọng khủng khiếp của dục vọng (passion). Trong “Lời tựa” (avant-propos) chung cho Vở kịch con người, Balzac viết: “La passion est toute l’humanité” (Dục vọng là toàn bộ loài người). So với Descartes, so với Balzac và nhiều chuyên gia khác về dục vọng, mệnh đề của Jean-Paul Sartre, “L’homme est une passion inutile”, là một điển hình của sự thiếu sức sống, quặt quẹo và tuyệt đối đáng ngờ. Ở đây: dục vọng của con người thì mạnh hơn cảnh sát.

[57] Cf. Beaumarchais.[58] Cf. Molière.

[59] Từ “sieur” trông rất hao hao từ “sir” trong tiếng Anh, và quả thật đó cũng là một dạng “danh hiệu” trong xã hội Pháp; giải thích kỹ thì sẽ rất lằng nhằng, chỉ cần biết rằng ngày nay từ này vẫn được dùng phổ biến, với tính cách châm biếm.

[60] Cả hai đều là nhân vật của nhà văn Anh Richardson (cf. chú thích số 33 về Grandisson); Robert Lovelace là nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết Clarissa, tiểu thuyết bằng thư (epistolary novel), dài khủng khiếp.

[61] “Ordre des Dévorants” (ở đây dịch thành “Hội Bổn phận”) là tên của tổ chức do Balzac bịa ra cho các nhân vật của mình (“Truyện Mười Ba Quái Kiệt”, nhan đề chung của “trilogy” trong đó có Ferragus, là về mười ba thành viên của hội nhóm này). Cái tên không dễ giải quyết: Balzac đặt nó dựa theo tên của một hội nhóm mang tên “Compagnons du Devoir” (tức là “Những người đồng hành của Bổn phận”), tổ chức của công nhân dưới dạng hội ái hữu, bắt nguồn từ rất xa, lên đến tận Dòng Đền (Jerusalem); tuy rằng “Dévorant” có thể hiểu là “ăn thịt” hay “săn mồi”, và tuy Balzac có nói, trong lời tựa cho Truyện Mười Ba Quái Kiệt, rằng “Ordre des Dévorants” tồn tại song song và là đối thủ của “Compagnons du Devoir”, nhiều yếu tố cho thấy ở đây Balzac đang chơi chữ, vì “dévorant” hoàn toàn có thể coi là từ phái sinh từ “devoir”; chính bởi vậy, “Ordre des Dévorants” được dịch thống nhất thành “Hội Bổn phận”, với các lưu ý về cách hiểu trên đây; nhan đề đầy đủ của Ferragus là Ferragus, Chef des Dévorants.

[62] Hiện nay là phố Léon-Cladel gần Chứng Khoán, nghĩa là không xa nhà cũ (phố Soly, Vieux-Augustins) lắm.

[63] Ý nói sòng bạc ở Palais-Royal.

[64] Chỗ này giờ chính là Điện Élysée, trên đại lộ Champs-Élysées.

[65] Hầu tước de Ronquerolles là anh trai của bà de Sérisy, hai nhân vật không xuất hiện nhiều nhưng có vai trò rất quan trọng trong Truyện Mười Ba Quái Kiệt, cũng như trong cả bộ Vở kịch con người. De Ronquerolles có một cô cháu gái là Clémentine du Rouvre, nhân vật chính của tác phẩm La fausse maîtresse (Nàng tình nhân hờ); chỉ duy nhất trong Ferragus nhân vật em gái này được viết là “Sérizy”, mọi nơi khác đều là “Sérisy”.

[66] Cf. chú thích số 32.

[67] Ý nói các nhân vật thân cận với nhà vua.

[68] Một câu nói của César, nhưng ở đây có thay đổi so với câu gốc: “em gái” thay cho “vợ”.

[69] Nhân vật lừng danh kể từ năm 1809 với tư cách nhân viên bí mật, rồi trở thành sếp đội mật thám; Vidocq là sếp sòng ngành mật thám khi đệ đơn từ chức năm 1827, mấy năm sau quay trở lại tiếp tục làm việc, rồi lại nhanh chóng từ chức, lập đội cảnh sát riêng.[70] Đây chính là địa điểm của “Cour des Miracles” nổi tiếng trong Notre-Dame de Paris của Victor Hugo.

[71] Ý tưởng “lãnh thổ trung lập” nơi các giới có thể gặp nhau (mà không gây tổn hại đến danh dự của mình), chủ yếu là giới quý tộc và giới tư sản, xuất hiện ở gần như mọi tác phẩm của Vở kịch con người, và là như vậy không chỉ tại Paris, mà còn tại các thành phố ở tỉnh; tuy nhiên, điều Balzac nói ở đây không hoàn toàn đúng với lịch sử: vào thời điểm nền Quân chủ tháng Bảy (tức là từ 1830 trở đi) thì các phòng khách của giới quan chức và giới ngoại giao mới thực sự trở thành “lãnh thổ trung lập”, trong khi câu chuyện này có thể xác định là xảy ra vào khoảng 1819-1820 (cf. chú thích số 10).

[72] “Boudoir” là một dạng phòng khách nhỏ, được trang trí cầu kỳ, thanh lịch, và là “phòng khách” của riêng phụ nữ, chỉ phụ nữ mới là chủ các “boudoir”; đây là mốt bắt đầu xuất hiện từ đầu thế kỷ 18, cụ thể hơn là vào giai đoạn được gọi tên “Régence” (Nhiếp chính), những năm ngay tiếp sau khi Louis XIV chết và Louis XV còn quá nhỏ, thời kỳ có sự tiếm quyền của công tước d’Orléans và cũng là thời kỳ bàn đạp cho nhân vật về sau sẽ có quyền lực rất lớn, “bộ trưởng” của Louis XV, hồng y de Fleury (tương tự Richelieu và Marazin trước đó); vì tính chất quá mức đặc thù, từ này sẽ được để nguyên không dịch; ta nhớ, hầu tước de Sade có một tác phẩm lừng danh mang tên La Philosophie dans le boudoir.

[73] Ordre de la Toison d’or: tước hiệu danh dự cao quý nhất của Tây Ban Nha, có lịch sử rất lâu đời.

[74] “Yêu” và “được yêu”: hai điều nằm ở trung tâm “lý thuyết tình yêu” của Balzac; có những nhân vật của Vở kịch con người được yêu nhưng không yêu, có người nghĩ cứ yêu đi cái đã rồi dần dần sẽ được yêu, lại có những nhân vật coi lý tưởng của tình yêu là yêu mà không cần được yêu.

[75] Cf. chú thích số 36, đoạn liên quan đến de Marsay.

[76] Cũng như rất nhiều chỗ trong các tác phẩm của Vở kịch con người, Balzac do dự hoặc nhầm lẫn trong các chi tiết; ở trên nói đến huy hiệu Lông cừu vàng, tức là của Tây Ban Nha, nhưng ở đây nhân vật lại là người Bồ Đào Nha; tham khảo thêm các nhầm lẫn kiểu như thế này chẳng hạn ở La Femme de trente ans (Người phụ nữ tuổi ba mươi).

[77] Balzac đang trích dẫn lời nhân vật Climène (cf. Molière).[78] Từ tiếng Ý (tương đương trong tiếng Pháp là “désinvolture”), có thể hiểu là “sự thong dong”.

[79] Ngoài các loại xe ngựa phổ biến như đã nói ở chú thích số 54, xe “coupé” là loại xe ngựa kín, bốn bánh, hai chỗ ngồi, hai cửa có gắn kính, phía trước là chỗ ngồi cho xà ích.

[80] Những gì Balzac viết ở đây rất gần với câu nói của một bà quyền quý già với nữ công tước de Langeais, đại ý hôn nhân là một thiết chế rất khiếm khuyết, trong tác phẩm thứ hai sau Ferragus trong trilogy Truyện Mười Ba Quái Kiệt.

[81] Tên một nhân vật của Charles Nodier trong câu chuyện mà Nodier viết năm 1822, một nhân vật nhỏ bé, tinh quái đã quấy rối người ngư dân Xcôtlen Dougal cùng người vợ Jeannie.

[82] Nam tước Gérard (1770-1837): bức tranh mà Balzac nhắc đến vẽ cảnh Daphnis (cởi truồng, chỉ có một miếng khăn màu đỏ vắt qua vai) kết một vòng hoa quàng lên đầu Chloé đang ngủ, đầu đặt lên đầu gối Daphnis; nếu chưa biết Daphnis và Chloé thì xin mời goolge.

[83] Chi tiết phòng ngủ phụ nữ là nơi thiêng liêng xuất hiện trong rất nhiều tác phẩm thuộc Vở kịch con người.

[84] Đoạn vừa xong hết sức mơ hồ, bản thân tôi cũng chưa chắc lắm là đã hiểu hết; tạm ghi chú lại ở đây.

[85] Xưởng sản xuất Savonnerie do Marie de Médicis lập ra, đến năm 1828 thì nhập với xưởng sản xuất Gobelins – cái tên Gobelins sản xuất thảm sẽ còn nổi tiếng lâu dài.

[86] Dường như từ này là sáng tạo của riêng Balzac, không ai hiểu nghĩa là gì.

[87] Ở đây Balzac muốn nói đến hoàng hậu Anne d’Autriche vợ vua Louis XIII, mẹ vua Louis XIV nước Pháp; độc giả của Alexandre Dumas rất biết nhân vật này.

[88] Cũng như ở đầu Mặt bên kia của lịch sử hiện thời, Balzac phê phán sự bình đẳng (ở đây kèm với chủ nghĩa cá nhân); đây chỉ là hai trong vô số phê phán tương tự trong Vở kịch con người.

[89] Dường như đây là lời trích từ một vở kịch “vaudeville”; Sophie ở đây liên quan đến Sophie Voland thân thiết của Diderot (Thư gửi Sophie Voland là một kiệt tác lớn lao của Diderot); ý Balzac ở đoạn rất tù mù này là tình yêu có tiền mới là tình yêu đích thực, “một túp lều tranh hai trái tim vàng” thì không.

[90] Tình yêu là phải có tiền, không có chuyện tình yêu tồn tại được bằng nước lã và không khí: ta cần tin Balzac thực sự tin như vậy chứ không phải nói chơi, vì ở Miếng da lừa Balzac cũng nói: “Tôi không hình dung được tình yêu ở trong sự khốn cùng”. Dường như, người nghèo thì không biết đến tình yêu, theo Balzac.

[91] Tiếng Latin (ở đây Balzac trích dẫn Horace không hoàn toàn chính xác), ý nói “những mẩu của nhà thơ vương vãi”.

[92] Cf. chú thích số 40.

[93] Ngoài “boudoir” (cf. chú thích số 72), một không gian nữa rất đặc thù của phụ nữ thời ấy là “cabinet” (cabinet de toilette), phòng kín trang điểm, thường đặt ngay trong căn phòng của phụ nữ; trong Vở kịch con người, “cabinet de toilette” từng trở thành bối cảnh cho một câu chuyện hết sức đáng nhớ: cảnh xảy ra giữa bộ ba Julie d’Aiglemont, chồng nàng, tướng Victor d’Aiglemont và lord Grenville.

[94] Nhiều khi, đọc Balzac miêu tả cảnh giường chiếu, bỗng thấy buồn nôn với vô số tiểu thuyết ngày nay ngồn ngộn ba trang một hoạt cảnh “anh khoan thai đi vào trong em”: giống một bữa tối quá nhiều hàu.

[95] Tiếp tục “chủ đề” yêu và được yêu: cf. chú thích số 74.

[96] Đề nghị google.

[97] Đề nghị google.

[98] Trong Sur Cathérine de Médicis (cf. chú thích số 8 của Một vụ việc ám muội), Balzac đã đi sâu vào câu chuyện này: Cathérine de Médicis từ Florence sang làm dâu François Đệ nhất nước Pháp, lấy người con trai sau này sẽ trở thành Henri Đệ nhị; trong đời, Henri Đệ nhị có một cuộc tình rất lâu dài với bà de Poitiers; Cathérine de Médicis cắn răng chịu cảnh này suốt nhiều năm ròng.

[99] Mỗi “lệnh” (lustre) gồm 5 năm (cách dịch này dĩ nhiên lấy cảm hứng từ Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn).

[100] Balzac cố tình chọn các ví dụ phụ nữ nhiều tuổi: đặc biệt, Diane de Poitiers hơn Henri Đệ nhị khoảng hai mươi tuổi.

[101] Thật không ngẫu nhiên khi một trong vài kiệt tác lớn nhất của Vở kịch con người là một cuốn tiểu thuyết về các kỹ nữ: Bước thăng trầm của kỹ nữ.[102] Một tư thế rất điển hình của các nhân vật trong Vở kịch con người: ta gặp nó không biết bao nhiêu lần, phần lớn là ở các nhân vật (nam) ngồi một mình, nhưng cũng có lúc ở cảnh trò chuyện của hai nhân vật.